Đi tìm một định nghĩa có cấu trúc cho đô thị thông minh

Rất nhiều quan điểm, ý kiến xác đáng và sát thực tế đã được các chuyên gia, nhà quản lý thảo luận sôi nổi tại buổi tọa đàm Định nghĩa một cách có cấu trúc về thành phố thông minh (Smart city) do tạp chí TGVT tổ chức.

Đô thị hiện đại và Đô thị thông minh: Có khác nhau?

Trên thế giới đã hình thành hàng vạn đô thị, trong đó có hàng ngàn đô thị hiện đại (ĐTHĐ) đủ mọi quy mô. Yêu cầu chủ yếu để đô thị có thể xem là ĐTHĐ là phải có hạ tầng kỹ thuật – dịch vụ hoàn chỉnh bao gồm 6 nhóm đặc trưng chủ yếu sau: 

1. Quy hoạch bền vững. 

2. Hệ thống giao thông thông thoáng, dịch vụ giao thông thuận tiện. 

3. Điện – năng lượng – chiếu sáng, cấp – thoát nước đầy đủ và ổn định. 

4. Viễn thông – thông tin liên lạc thông suốt. 

5. Hệ thống các dịch vụ như hành chính công, y tế, giáo dục, đảm bảo an ninh,…hiệu quả. 

6. Hệ thống xử lý chất thải hoàn thiện, ít ô nhiễm. 

Cho đến những năm 90 thế kỷ trước thì phần lớn thủ đô và nhiều thành phố khác ở các quốc gia tiên tiến đều đã là các đô thị hiện đại, cỡ lớn như Washigton D.C, Moskva, Paris, Tokyo, London,… , cỡ vừa như Ottawa, Helsinki hay cỡ nhỏ như Canberra, Praha,…


 

Khoảng 15 năm trở lại đây, một số chuyên gia trên thế giới bắt đầu nói về những đô thị thông minh (ĐTTM). Chính quyền một số thành phố như London, Amsterdam, Barcelona, Stokholm, Tel Aviv, ….đã triển khai một số hệ thống kỹ thuật – công nghệ làm cho một số hoạt động ở những nơi đó trở nên “thông minh hơn”, chủ yếu theo nghĩa cung ứng các dịch vụ cho người dân tốt hơn so với trước khi triển khai các hệ thống đó.

Chúng ta thử quan sát thủ đô Canberra của Úc. Canberra rộng khoảng 800 km2, với dân số khoảng 400.000 người. Có thể xem Canberra là ĐTHĐ từ khoảng 1990 với hệ thống hạ tầng kỹ thuật – dịch vụ rất chuẩn mực. Tuy nhiên đến năm 2016, tức gần 30 năm sau khi đã là ĐTHĐ, Canberra mới triển khai chương trình đưa Canberra dần thành ĐTTM với 5 dự án chính đầu tiên cho giai đoạn 2016 – 2020 bao gồm:

• CBRfree public WiFi: cung cấp WiFi miễn phí cho toàn thể cư dân Canberra với lượng truy nhập hàng ngày tới 250 megabytes.

• Smart parking: là một nỗ lực giúp người dùng tiết giảm thời gian lưu thông khi tìm chỗ đỗ xe.

• Smart street lights: hệ thống chiếu sáng đường phố tiết kiệm nhờ quan sát môi trường 

• Renewable energy by 2020: tới 2020, Canberra sẽ sử dụng 100% nguồn năng lượng tái tạo để cấp điện.

• The digital backpack: cung cấp cổng thông tin đảm bảo việc học trực tuyến cho sinh viên Canberra.

Chúng ta thấy rằng, một thành phố nhỏ, hiện đại từ nhiều thập niên trước, thủ đô của một quốc gia giàu có mà đến tận 2016 mới đề ra chương trình biến mình dần từng bước thành ĐTTM. 

Vậy thì ĐTTM phải có gì đó rất khác mà ĐTHĐ có thể chưa có?

Đúng là như vậy.

Một ĐTHĐ có thể chưa là ĐTTM và ngược lại, một ĐTTM có thể chưa thật hiện đại.

Vậy thì ĐTTM là gì?

Các chuyên gia tham dự tọa đàm về TPTM do Tạp chí tổ chức tại Saigon Innovation Hub ngày 22/03

Hình dung về các hệ thống thông minh

Để hiểu bản chất của một ĐTTM, chúng ta cần khái niệm về hệ thống thông minh (HTTM).

Xét một hoạt động trong dịch vụ khám chữa bệnh của ngành y tế. Xin lưu ý, chúng ta chỉ trích một phần trong hoạt động khám chữa bệnh. Đó là việc các bệnh viện thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng cho người bệnh, như xét nghiệm máu, nước tiểu và các xét nghiệm khác từ đơn giản đến phức tạp; làm siêu âm, chụp X – quang và các chiếu chụp khác từ đơn giản đến phức tạp.

Hê thống y tế cận lâm sàng (HTYTCLS) hiện đại (cấu phần của hệ thống y tế hiện đại và là thành phần không thể thiếu của một ĐTHĐ) là hệ thống có đủ các công nghệ thực hiện mọi xét nghiệm cận lâm sàng và có đủ nhân lực đáp ứng trình độ cho những việc này. HTYTCLS tại TP HCM hiện nay cơ bản đã đạt trình độ đó, tức có thể xem đó là HTYTCLS hiện đại. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: đây đã là HTYTCLS thông minh chưa? Câu trả lời là: Chưa!

Nếu hệ thống này có thể dấn lên được một bước nữa theo hướng “sử dụng công nghệ và thông tin thời gian thựcđặt người bệnh vào trung tâm” thì người ta sẽ coi đó là HTYTCLS thông minh. Bản chất việc này là gì?

Hiện nay, khi khám bệnh, các xét nghiệm, các chiếu chụp tại một bệnh viện hầu như không khi nào được bệnh viện khác chấp nhận. Từ đó, số lượng các xét nghiệm cận lâm sàng tăng rất cao, tiền của đầu tư cho thiết bị, nhân lực y tế và chi phí của người bệnh tăng rất cao, tốn kém của xã hội tăng gấp bội. Ai cũng biết có thể tổ chức hệ thống này thông minh hơn, ngay cả chỉ bằng cách thủ công là khi đi khám bệnh, bệnh nhân có thể xuất trình các xét nghiệm còn hiệu lực thời gian và bác sỹ sẽ chỉ chỉ định giải pháp cận lâm sàng bổ xung thật cần thiết vào thời điểm đó, thay vì xét nghiệm nào cũng làm lại như hiện nay. Đó là mức độ thông minh thấp. Cao hơn nữa, có thể tổ chức lưu giữ mọi kết quả cận lâm sàng (và cả quá trình điều trị) cho bệnh nhân trên không gian mạng để các bác sỹ ở đâu cũng có thể tiếp cận và sử dụng các thông tin đó khi điều trị. Làm như vậy, hệ thống đã “sử dụng công nghệ và thông tin thời gian thựcđặt quyền lợi của người bệnh vào vị trí trung tâm” của dịch vụ y tế. Khi đó, ta sẽ có một HTYTCLS thông minh. Rất nhiều nước đã làm được như vậy hoặc gần như vậy. Ta thì chưa.

Vậy chúng ta có thể triển khai dự án rất nhỏ này trong ngành y tế của thành phố để có HTYTCLS thông minh không?

Có thể, nhưng hiện còn rất khó, khó đến mức gần như chưa thể, dù ta đã có HTYTCLS hiện đại.

Vì sao lại quá khó dù rằng chỉ là vấn đề nhỏ trong một ngành mà thôi?

Đó là vì:  Một là vấn đề pháp lý. Phải làm sao chuẩn hóa các dịch vụ cận lâm sàng để một xét nghiệm ở phòng khám nhỏ X cũng được bệnh viện lớn như Chợ Rẫy chấp nhận? Việc này có lẽ còn rất nhiều năm nữa chúng ta cũng chưa giải quyết được và nó cũng vượt ra ngoài trách nhiệm, quyền hạn của thành phố. Mới đây, Bộ Y Tế đã có những nỗ lực bước đầu về vấn đề này.

Hai là vấn đề xã hội (y đức). Làm sao để các bệnh viện đều chỉ hướng đến việc khám chữa bệnh tốt nhất, rẻ nhất mà không lo tìm kiếm thu nhập từ bệnh nhân? Hiện chúng ta chưa nhìn thấy giải pháp cho vấn đề này.

Ba là vấn đề công nghệ. Cho dù chúng ta đã có mạng internet khá phát triển, vài bệnh viện đã có các CSDL cận lâm sàng của bệnh nhân. Tuy nhiên, việc xây dựng và kết nối một hệ thống các CSDL để sử dụng chung kết quả cận lâm sàng, trong đó có rất nhiều hình ảnh còn là vấn đề mà trình độ ứng dụng CNTT của ta chưa sẵn sàng. May mắn là khó khăn công nghệ này là cái dễ khắc phục hơn nhiều so với 2 khó khăn về pháp lý và xã hội (y đức) nêu trên. 

Qua thí dụ nhỏ này ta có thể rút ra một số kết luận:

1. Không nhất thiết HTYTCLS phải hiện đại thì mới nghĩ về một HTYTCLS thông minh. Nếu chúng ta chưa có một số công nghệ mới nhất trong khám chữa bệnh thì không vì thế mà không thể xây dựng HTYTCLS thông minh như mô tả trên.

2. HTYTCLS thông minh đòi hỏi những định chế mà ta chưa có, đòi hỏi việc nâng cao y đức và vấn đề hiệu quả kinh tế của đơn vị khám chữa bệnh mà ta chưa giải quyết được.

3. Về CNTT thì chúng ta chưa tổ chức được các CSDL có cấu trúc phức tạp và nhất là khả năng sử dụng chung (bởi nhiều bác sỹ tại các bệnh viện khác nhau). Tuy nhiên, khó khăn này không khó giải quyết.

Việt Nam chưa có đô thị nào có thể coi là ĐTHĐ. Tuy nhiên, trong lòng các đô thị chưa thật hiện đại vẫn không loại trừ việc xây dựng một số HTTM.

Vậy HTTM là gì? Phải chăng một hoạt động nào đó có ứng dụng CNTT thì là HTTM? Không phải vậy. Có rất nhiều hệ thống vận hành trong xã hội sử dụng không ít CNTT nhưng người ta không xem là các HTTM. Mặt khác, có các hoạt động không sử dụng CNTT nhưng người ta vẫn cho là “khá thông minh” (bệnh nhân khám bệnh mang theo các xét nghiệm cận lâm sàng và các bác sỹ sử dụng triệt để chúng). Tuy nhiên, thuật ngữ HTTM chỉ giành cho các hoạt động xã hội mà công nghệ với phần quan trọng thường phải có là CNTT phải là thời gian thực, thông tin lưu hành trong hệ thống là thời gian thực nhằm huy động tốt nhất các nguồn lực con người và tự nhiên khi hệ thống vận hành. Với các hệ thống liên quan đến người dân thì họ phải được đặt ở vị trí trung tâm, tức họ phải là mục tiêu phục vụ sao cho tốt nhất có thể được. Xây dựng các HTTM không quá khó nhưng không dễ. Trong phần lớn các trường hợp thì khó khăn chủ yếu là vấn đề pháp luật, vần đề xã hội. Khó khăn về công nghệ là có nhưng là cái dễ khắc phục. Dù nhiều của, nhiều người đến bao nhiêu thì cũng phải lựa chọn rất kỹ lưỡng các dự án xây dựng các HTTM. Đó là lý do mà thủ đô Canberra của nước Úc giàu có chỉ nêu 5 dự án cho khoảng thời gian 2016 – 2020. Mỗi hệ thống cỡ trung ở quy mô TP.HCM có thể cần đầu tư 5 – 10 triệu USD.

Đi tới một định nghĩa có cấu trúc về ĐTTM

Như trên đã nói, ĐTHĐ phải có ít nhất 6 nhóm hạ tầng kỹ thuật – dịch vụ ở tình trạng hoàn hảo. Tuy nhiên, dù có đủ các yếu tố đó thì có thể nó vẫn chưa là ĐTTM, như Canberra trước 2016.

Với Canberra và nhiều thành phố hiện đại khác thì có thể xem giai đoạn xây dựng chúng thành các ĐTTM là giai đoạn hậu hiện đại. Tuy nhiên, nhiều thành phố trên thế giới còn khá ngổn ngang, chưa thật hiện đại vẫn có quyết tâm xây dựng chúng thành các ĐTTM, song song việc tiếp tục hiện đại hóa chúng. Ân Độ thể hiện rất rõ quyết tâm này.

Tới đây, chúng ta vẫn chưa trả lời được câu hỏi: ĐTTM là gì? Chỉ khi hiểu sâu sắc ĐTTM là gì, thì một thành phố mới thấy con đường trở thành ĐTTM dù nó hiện đại hay chưa thật hiện đại.   

Chính quyền Canberra nói rằng, Canberra thông minh là phải “sử dụng công nghệ và thông tin thời gian thực để kết nối và hợp tác (con người với nhau và với tự nhiên – NV).…, và đặt người dân vào trung tâm của mọi hoạt động”.  

Có thể trích dẫn vô số các mô tả, các định nghĩa về ĐTTM của vài chục thành phố đang trong tiến trình biến mình thành những ĐTTM hay của các tổ chức gọi là các Hội Đồng về các ĐTTM (Smart Cities Council – SCC).  Nói chung các mô tả này về cơ bản cũng không khác mấy so với  quan điểm về Canberra thông minh. Tất cả mô tả đều lấy ý tưởng cơ bản “sử dụng công nghệ và thông tin thời gian thực đặt người dân vào trung tâm của mọi hoạt động” để mô tả một ĐTTM. Định nghĩa kiểu này còn quá trừu tượng, rất khó để hiểu đúng ĐTTM là gì! Do vậy, chúng ta cần giải mã thật rõ ràng khái niệm “sử dụng công nghệ và thông tin thời gian thực đặt người dân vào trung tâm của mọi hoạt động” được nói đến trong các mô tả, các định nghĩa ĐTTM. Thí dụ về HTYTCLS hiện đại của TP.HCM cần làm gì để trở thành HTTM đã giúp chúng ta việc này.  

Một ĐTTM phải bao gồm nhiều và ngày càng nhiều HTTM kiểu như HTYTCLS thông minh nói trên. Nhưng như vậy vẫn là chưa đủ. Thành phố vẫn chưa là ĐTTM cho dù nó có hàng chục, nhiều chục HTTM. Chúng ta hãy lùi lại khoảng 100 năm và quan sát hệ thống cấp điện của các TP lớn. Mỗi khu vực khi đó có thể có một số trạm phát điện bởi các nhà cung cấp khác nhau, chúng riêng lẻ cho từng vùng và có thể cho từng mục tiêu sử dụng, như cấp điện cho nhà dân, cho đèn đường, cho các nhà máy sản xuất lớn, … Ngày nay thì hệ thống điện cho một thành phố là thống nhất, thậm chí cho cả nước. 

Nếu các hệ thống cấp điện rời rạc như trăm năm trước thì đô thị chưa là ĐTHĐ. 

Tương tự, nếu các hệ thống kỹ thuật – dịch vụ là các HTTM nhưng rời rạc thì đô thị chưa là ĐTTM.

Ta gần đi tới, nhưng chưa tới một định nghĩa ĐTTM là gì.

Tiêu chí hàng đầu để một TP có thể coi là ĐTTM là nó phải có nhiều, rất nhiều  các HTTM, được kết nối với nhau. Các HTTM này sẽ được xây dựng dần theo thời gian, tuân thủ một quy hoạch chặt chẽ như khi xây dựng hệ thống điện, nước, đường giao thông,… cho các ĐTHĐ.

Chúng ta đã tạm hiểu HTTM là gì (qua thí dụ HTYTCLS thông minh đã mô tả trên). Nhưng chúng lại còn phải được kết nối với nhau. Vậy các HTTM kết nối với nhau là gì? Vì sao phải kết nối? Kết nối theo nguyên tắc nào và bằng cách nào?... Thêm nữa, khi TP có một hệ thống các HTTM được kết nối thì cũng mới là tiêu chí hàng đầu. Còn gì nữa để làm nên một ĐTTM? 

PC World VN 04/2017 

Từ khóa: đô thị thông minh, Nguyễn Trọng, smart city, thành phố thông minh